Một trong những câu hỏi chủ sở hữu quyền thường đặt ra khi đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam là: “Nếu nhãn hiệu dự định nộp đơn tương tự với một nhãn hiệu đã đăng ký trước đó, và hàng hóa/dịch vụ cũng thuộc cùng một nhóm theo Bảng phân loại Nice, liệu nhãn hiệu đó có chắc chắn bị từ chối bảo hộ hay không?”
Theo thực tiễn thẩm định tại Việt Nam, câu trả lời là: không nhất thiết.
Việc hai nhãn hiệu cùng thuộc một nhóm hàng hóa/dịch vụ theo Bảng phân loại Nice là một yếu tố quan trọng cần xem xét, nhưng không phải là căn cứ duy nhất và cũng không tự động dẫn đến kết luận rằng hàng hóa/dịch vụ là trùng hoặc tương tự. Ngược lại, trong nhiều trường hợp, hàng hóa/dịch vụ thuộc các nhóm khác nhau vẫn có thể bị coi là tương tự nếu chúng có mối liên hệ về bản chất, công dụng, mục đích sử dụng, đối tượng người tiêu dùng, kênh thương mại hoặc khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại.
Do đó, để đánh giá rủi ro từ chối đối với một nhãn hiệu tại Việt Nam, cần xem xét không chỉ mức độ tương tự giữa các dấu hiệu, mà còn phải đánh giá một cách cụ thể mức độ tương tự hoặc liên quan giữa hàng hóa/dịch vụ mang các nhãn hiệu tương ứng.
Trong thực tiễn thẩm định, Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam không chỉ đối chiếu nhãn hiệu xin đăng ký với các nhãn hiệu đối chứng trong cùng một nhóm Nice. Cơ quan thẩm định có thể tiến hành đối chiếu với các nhãn hiệu đã đăng ký hoặc nộp đơn trước đó ở các nhóm khác nếu hàng hóa/dịch vụ liên quan được cho là có khả năng tương tự hoặc có mối liên hệ thương mại đáng kể.
Nói cách khác, Việt Nam áp dụng thực tiễn thẩm định chéo nhóm trong quá trình đánh giá khả năng gây nhầm lẫn giữa các nhãn hiệu.
Ví dụ, theo bảng hướng dẫn thẩm định chéo nhóm hàng hóa/dịch vụ, hàng hóa thuộc Nhóm 31 có thể được đối chiếu với hàng hóa thuộc Nhóm 05. Điều này có thể được lý giải trên cơ sở thực tiễn rằng một số hàng hóa thuộc Nhóm 31, chẳng hạn như sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm có nguồn gốc thực vật, thức ăn cho động vật hoặc các sản phẩm tự nhiên có liên quan đến sức khỏe, có thể có mối liên hệ nhất định với hàng hóa thuộc Nhóm 05 như dược phẩm, thuốc, thực phẩm chức năng, chế phẩm dinh dưỡng hoặc chế phẩm thú y.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng bảng thẩm định chéo nhóm chỉ phản ánh nguyên tắc hoặc định hướng thẩm định ban đầu. Trong quá trình thẩm định thực tế, thẩm định viên không chỉ dựa vào số nhóm mà sẽ xem xét nội dung cụ thể của danh mục hàng hóa/dịch vụ trong đơn đăng ký và trong nhãn hiệu đối chứng.
Một vụ việc gần đây cho thấy rõ cách tiếp cận này trong thực tiễn.
Nhãn hiệu xin đăng ký:
Nhóm: 35 (Quản lý kinh doanh khách sạn cho người khác; quản lý thương mại việc li-xăng sản phẩm và dịch vụ của người khác; tư vấn quản lý kinh doanh; quảng cáo; tư vấn quản lý kinh doanh liên quan đến nhượng quyền thương mại; quản lý hành chính được thuê ngoài cho khách sạn).
43 (Lưu trú khách sạn; cơ sở lưu trú tạm thời [khách sạn, nhà trọ];
Cục SHTT đã ban hành Thông báo kết quả thẩm định nội dung, chấp nhận bảo hộ cho Nhóm 35 và “một số dịch vụ” thuộc Nhóm 43.
Theo đó, đơn chỉ bị từ chối một phần đối với một số dịch vụ thuộc Nhóm 43, cụ thể là:
Do bị coi là tương tự với nhãn hiệu đối chứng sau đây:
Nhãn hiệu:
Nhóm: 43 (Dịch vụ nhà hàng ăn uống; dịch vụ nhà hàng ăn uống Trung Quốc; dịch vụ tự phục ăn uống do nhà hàng thực hiện cung cấp ẩm thực Trung Quốc; dịch vụ cung cấp thực phẩm và đồ uống do nhà hàng thực hiện; dịch vụ cung cấp thực phẩm và đồ uống cho tiệc cưới do nhà hàng thực hiện; dịch vụ cho thuê phòng để tổ chức tiệc cưới).
Nhãn hiệu đối chứng cũng được bảo hộ cho các dịch vụ thuộc Nhóm 43, bao gồm dịch vụ nhà hàng; dịch vụ nhà hàng Trung Hoa; dịch vụ nhà hàng tự phục vụ chuyên về ẩm thực Trung Hoa; cung cấp thức ăn và đồ uống bởi nhà hàng; cung cấp thức ăn và đồ uống cho tiệc cưới bởi nhà hàng; cho thuê phòng phục vụ tiệc cưới.
Vụ việc này có giá trị tham khảo vì cả hai nhãn hiệu “” và “”được xem là có mức độ tương tự đáng kể, và dịch vụ của cả hai bên đều thuộc cùng Nhóm 43. Tuy nhiên, Cục Sở hữu trí tuệ không từ chối toàn bộ danh mục dịch vụ thuộc Nhóm 43 của đơn đăng ký.
Việc từ chối chỉ giới hạn ở các dịch vụ liên quan trực tiếp đến cung cấp thức ăn, đồ uống, nhà hàng, quán ăn, quán cà phê và quán bar - tức là các dịch vụ có tính chất trùng hoặc gần với dịch vụ của nhãn hiệu đối chứng.
Ngược lại, các dịch vụ như lưu trú khách sạn và cung cấp chỗ ở tạm thời vẫn được chấp nhận bảo hộ, mặc dù cũng thuộc Nhóm 43. Điều này cho thấy Cục Sở hữu trí tuệ đã không áp dụng cách tiếp cận máy móc theo số nhóm, mà đã đánh giá cụ thể bản chất của từng dịch vụ trong danh mục đăng ký.
Trong thực tiễn, khi đánh giá khả năng tương tự giữa hàng hóa/dịch vụ, cơ quan thẩm định thường xem xét tổng thể nhiều yếu tố, bao gồm:
Từ thực tiễn nêu trên, có thể rút ra một số lưu ý quan trọng đối với doanh nghiệp, chủ sở hữu nhãn hiệu và luật sư sở hữu trí tuệ khi đánh giá khả năng đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam.
Trong thực tiễn đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam, câu hỏi cần đặt ra không chỉ là: “Hai nhãn hiệu có tương tự không và hàng hóa/dịch vụ có thuộc cùng nhóm không?”
Câu hỏi chính xác hơn phải là: “Hàng hóa/dịch vụ cụ thể mang các nhãn hiệu đó có gần gũi đến mức người tiêu dùng có thể nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại hay không?”
Sự khác biệt này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Một nhãn hiệu có thể bị từ chối cho một số hàng hóa/dịch vụ nhất định nhưng vẫn được chấp nhận bảo hộ cho các hàng hóa/dịch vụ khác, ngay cả khi các hàng hóa/dịch vụ đó cùng thuộc một nhóm Nice.
Do đó, đối với các chủ sở hữu quyền và người nộp đơn có kế hoạch đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam, việc đánh giá khả năng đăng ký không nên dừng lại ở việc so sánh dấu hiệu và số nhóm. Cần tiến hành phân tích chi tiết về bản chất, mục đích sử dụng, đối tượng khách hàng, kênh thương mại và mối liên hệ thực tế giữa hàng hóa/dịch vụ của nhãn hiệu xin đăng ký và nhãn hiệu đối chứng.
Nói cách khác, một nhãn hiệu xin đăng ký tương tự và dùng cho các sản phẩm/dịch vụ cùng nhóm với nhãn hiệu có trước có thể khiến nguy cơ bị từ chối bảo hộ cao hơn, nhưng không phải lúc nào cũng là căn cứ dẫn đến việc từ chối toàn bộ đơn đăng ký.
Nguyễn Vũ Quân | Partner, IP Attorney
Đào Thị Thúy Nga| Senior Patent Attorney
Nguyễn Thị Kim Anh| Patent Executive