Monday, June 25, 2018
Events:
(11) Số bằng 1-0008089
(45) Ngày công bố 25/01/2010 (51)7 IPC F02M 69/00
(21) Số đơn 1-2008-00692 (22) Ngày nộp đơn 20/03/2008
(86) Số và ngày nộp đơn PCT (87) Số và ngày công bố quốc tế
(30) Số đơn và ngày ưu tiên 2007-131418 17.05.2007 JP (74) Đại diện Công ty TNHH Tư vấn - Đầu tư N.T.K.
(73) Chủ bằng Yamaha Hatsudoki Kabushiki Kaisha
(72) Tác giả Kyouji Morita
(54) Tên sáng chế XE MÁY
(57) Tóm tắt

Sáng chế đề cập đến xe máy có van phun nhiên liệu được bảo vệ khỏi những tác động từ các tác nhân bên ngoài, sáng chế đề xuất động cơ trong đó trục xi lanh được hướng hầu như nằm ngang, bộ lọc không khí (22) được lắp vào phía trước phương tiện giao thông của đầu xi lanh (20) ở trạng thái xếp chồng. Van phun nhiên liệu (17) được lắp vào mặt trên của đầu xi lanh (20). Ống nạp (40) nối giữa mặt trên của đầu xi lanh (20) và mặt trên của bộ lọc không khí (22). Khi nhìn từ một bên phương tiện giao thông, ống nạp (40) được đặt đi vòng lên trên van phun nhiên liệu (17). Do đó, van phun nhiên liệu (17) được bố trí bên trong vùng được bao quanh bởi đầu xi lanh (20), bộ lọc không khí (22) và ống nạp (40) sao cho nó được bảo vệ khỏi những tác động từ các tác nhân bên ngoài.

22B W-22A

Bản mô tả

Lĩnh vực kỹ thuật được đề cập

Sáng chế đề cập đến xe máy có lắp van phun nhiên liệu.

Tình trạng kỹ thuật của sáng chế

Tài liệu công bố đơn quốc tế số WO2004/038214 đã bộc lộ xe máy có lắp động cơ thông thường có lắp van phun nhiên liệu. Động cơ được mô tả trong tài liệu này được treo và đỡ trên ống chính ở trạng thái trong đó trục xi lanh của xi lanh được hướng hầu như về phía trước. Bộ lọc không khí được lắp vào ống chính có hướng chếch lên trên động cơ về phía trước phương tiện giao thông và nối vào đầu xi lanh. Ngoài ra, van phun nhiên liệu được lắp vào đầu xi lanh ở gần với chỗ nối của ống nạp.

Với động cơ thông thường được mô tả ở trên, bộ lọc không khí được đặt xa ở vị trí chếch hướng lên phía trên đầu xi lanh về phía trước phương tiện giao thông, sao cho Ống nạp cũng được bố trí đi lên trên từ phía đâu xi lanh. Theo đó, van phun nhiên liệu được bố trí trong vùng lân cận với vị trí nối của ống nạp được đặt vào trạng thái lộ ra ngoài một mình không cùng các bộ phận được lắp quanh đó ngoại trừ ống nạp. Do đó, xuất hiện vấn đề về các tác động từ các tác nhân bên ngoài.

Bản chất kỹ thuật của sáng chế

Mục đích của sáng chế là đề xuất xe máy nhằm khắc phục các nhược điểm trên. Bản chất kỹ thuật của sáng chế là bảo vệ van phun nhiên liệu khỏi các tác động từ các tác nhân bên ngoài.

Để đạt được mục đích nêu trên, theo khía cạnh thứ nhất, sáng chế có đặc điểm là xe máy gồm đầu xi lanh được lắp vào phần trước phương tiện giao thông của đầu xi lanh ở trạng thái xếp chồng, bộ lọc không khí được bố trí gần kề với phần phía trước phương tiện giao thông của đầu xi lanh, ống nạp nối giữa đầu xi lanh và bộ lọc khí, và van phun nhiên liệu mà ít nhất một phần của nó được bố trí bên trong vùng được bao quanh bởi đầu xi lanh, bộ lọc không khí và ống nạp khi nhìn từ một bên phương tiện giao thông.

Theo khía cạnh thứ hai, sáng chế theo khía cạnh thứ nhất còn có đặc điểm là ít nhất một phần của van phun nhiên liệu được bố trí trong vùng nhô lên trên bộ lọc không khí khi nhìn từ phía trước phương tiện giao thông.

Theo khía cạnh thứ ba, sáng chế theo khía cạnh thứ nhất còn có đặc điểm là ít nhất một phần của van phun nhiên liệu được bố trí lệch so với vùng nhô ra trên ống nạp theo phương chiều rộng phương tiện giao thông khi nhìn trên hình chiếu bằng của phương tiện giao thông.

Theo khía cạnh thứ tư, sáng chế theo khía cạnh thứ nhất còn có đặc điểm là tấm che đầu xi lanh được lắp lên một bên của phần phía trước phương tiện giao thông của đầu xi lanh và bộ lọc không khí được lắp lên phía trước phương tiện giao thông của tấm che đầu xi lanh.

Theo khía cạnh thứ năm, sáng chế theo khía cạnh thứ nhất còn có đặc điểm là một đầu ống nạp được nối vào mặt trên của đầu xi lanh và đi lên trên từ vùng nối kéo dài ra phía trước và đầu kia của ống nạp được uốn xuống phía dưới để nối vào mặt trên của bộ lọc khí.

Theo khía cạnh thứ sáu, sáng chế theo khía cạnh thứ nhất còn có đặc điểm là van phun nhiên liệu được lắp vào đầu xi lanh và ống nạp gồm có thân bướm ga chứa van bướm để tạo khả năng mở và đóng van bướm, đầu vào của ống vòng được nối với đường nạp được tạo ra trong thân bướm ga và đầu ra của ống vòng kéo dài bên trên

Ống nạp để được nôi vào gần đầu phun của van phun nhiên liệu, nhờ vậy ít nhất một phần đường ống dẫn của ống vòng được bố trí bên trên đường biên là đường tâm của

Ống nạp khi nhìn từ một bên phương tiện giao thông và van phun nhiên liệu được bố trí bên dưới đường biên này.

Theo khía cạnh thứ bảy, sáng chế theo khía cạnh thứ nhất còn có đặc điểm là thân bướm ga chứa van bướm để tạo khả năng mở và đóng van bướm được nối với phần giữa của ống nạp, puli mà quanh nó dây đai được quấn quanh và làm cho có thể mở và đóng van bướm nhờ sự chuyển động của dây đai theo hướng dọc trục, được lắp vào một cạnh trong số các cạnh bên ngoài của thân bướm ga theo phương chiều rộng phương tiện giao thông và ống vòng kéo dài ở phía đối diện với phía ống nạp mà trên đó puli được lắp khi nhìn trên hình chiếu bằng phương tiện giao thông.

Theo khía cạnh thứ tám, sáng chế theo khía cạnh thứ ba còn có đặc điểm là van phun nhiên liệu được lắp vào đầu xi lanh, ít nhất một phần của nó được bố trí trong vùng nhô ra của ống nạp khi nhìn từ một bên phương tiện giao thông.

Theo khía cạnh thứ chín, sáng chế theo khía cạnh thứ ba còn có đặc điểm là thân bướm ga chứa van bướm theo cách để có thể mở và đóng được van bướm được nối vào phần giữa của ống nạp, puli mà quanh nó dây đai được quấn quanh và làm cho có thể mở và đóng van bướm nhờ sự chuyển động theo hướng dọc trục của dây đai, được lắp vào một cạnh trong số các cạnh bên ngoài của thân bướm ga theo phương chiều rộng phương tiện giao thông và van phun nhiên liệu được bố trí ở phía đối diện với phía mà trên đó puli được bố trí khi nhìn trên hình chiếu bằng của phương tiện giao thông.

Theo khía cạnh thứ mười, sáng chế theo khía cạnh thứ năm còn có đặc điểm là ít nhất một phần đường ống dẫn của ống nạp kéo dài trên trục tâm theo phương chiều rộng phương tiện giao thông, một đầu được nối của ống nạp hướng về bộ lọc không khí được đặt lệch so với trục tâm theo phương chiều rộng phương tiện giao thông, và ít nhất một phần của van phun nhiên liệu được bố trí trong vùng nhô ra tại đầu được nối hướng về bộ lọc không khí khi nhìn từ phía trước phương tiện giao thông.

MÔ tả vắn tắt các hình vẽ

Fig.1 là hình chiếu từ bên phải thể hiện trạng thái trong đó động cơ của xe máy được lắp.

Fig.2 là hình chiếu từ phía trước thể hiện động cơ khi nhìn từ phía trước phương tiện giao thông.

Fig.3 là hình chiếu bằng thể hiện động cơ khi nhìn từ bên trên phương tiện giao thông.

Fig.4 là hình chiếu nhìn từ bên phải thể hiện động cơ.

Fig.5 là hình chiếu nhìn từ bên trái thể hiện động cơ.

Fig.6 là hình chiếu mặt cắt ngang nhìn từ bên trái thể hiện động cơ. MÔ tả chi tiết các phương án ưu tiên thực hiện sáng chế Phương án 1

Phương án theo sáng chế sẽ được mô tả chi tiết có dựa vào các hình vẽ từ Fig.1 đến Fig.6. Tuy nhiên, trong phần mô tả sau đây, chỉ dẫn bên trái và bên phải được đề cập đến trong trường hợp khi nhìn phương tiện từ phía trước.

Fig.1 thể hiện toàn bộ xe máy theo phương án thực hiện sáng chế. Thân phương tiện giao thông 1 gồm tay lái 2 ở phía trước của nó, tay lái 2 này được nối với bánh trước 5 qua trục lái 4 mà ống cổ 3 được kéo dài xuyên qua đó. Khung thân 6 tạo ra kết cấu khung xương của toàn bộ thân phương tiện giao thông được ghép vào ống cổ 3. Nắp che 7 che phía trước thân phương tiện giao thông. Toàn bộ thân phương tiện giao thông 1 được che bởi tấm che thân 8 và yên 9 được bố trí tại phần tâm của thân phương tiện.

Cụm động cơ U được lắp vào ống chính 10 là một phần tạo nên khung thân 6. Cụm động cơ U gồm có động cơ 11, hộp cácte 12 và cụm truyền công suất 13 mà nhờ đó công suất của động cơ 11 được truyền tới phía bánh sau. Cụm động cơ u được treo trên khung thân 6 có thể quay quanh chốt 14. Bánh sau 15 được nối vào phần sau của cụm động cơ U và đầu dưới của bộ giảm xóc 16 được nối theo cách xoay được vào phần sau đó. Đầu trên của bộ giảm xóc 16 được nối xoay được vào khung thân 6. Nhờ vậy, cụm động cơ U cùng với bánh sau 15 có thể đung đưa quanh chốt 14 và tạo nên động cơ kiểu cụm đung đưa.

Động cơ 11 là động cơ bốn thì một xi lanh có lắp van phun nhiên liệu 17. Động Cơ 11 với trục xi lanh được bố trí gần như nằm ngang và hướng ra phía trước được bắt chặt vào khung thân 6 bằng bu lông với giá đỡ hoặc bộ phận tương tự ở giữa chúng. Động cơ 11 được kẹp chặt ở trạng thái trong đó khối xi lanh 19 và đầu xi lanh 20 được phân tầng theo thứ tự trên thành trước của hộp cácte 12 mà trục khuỷu được lắp trong đó. Tấm che đầu xi lanh 21 được lắp vào phía trước phương tiện giao thông của đầu xi lanh 20 và bộ lọc không khí 22 được lắp vào phía trước phương tiện giao thông của tấm che 21 ở trạng thái phân tầng.

Pittông 23 được lắp vào theo cách trượt được trong lỗ xi lanh 19A của khối xi lanh 19, pittông 23 được liên kết với trục khuỷu 18 qua thanh truyền 24. Hốc đốt 25 được tạo ra trên phần của đầu xi lanh khớp với lỗ xi lanh 19A để xác định một buồng đốt giữa nó và pittông 23. Cửa xả 26 và cửa nạp 27 nối thông với buồng đốt được nối thông với hốc đốt 25. Cửa xả 26 được nối thông với đường thoát khí 28 tạo ra trong đầu xi lanh. Đường thoát khí 28 kéo dài xuống phía dưới trong đầu xi lanh để có đầu được làm hở của nó nối vào ống xả 29. Mặt khác, cửa nạp 27 được nối thông với đường nạp 30 tạo ra trong đầu xi lanh 20.

Cửa xả 26 được mở và đóng bởi đầu xupáp 31A của xupáp xả 31 được bố trí trong đầu xi lanh 20 và cửa nạp 27 được mở và đóng bởi đầu xupáp 32A của xupáp nạp 32 cũng được bố trí tương tự trong đầu xi lanh 20. Xupáp xả 31 và xupáp nạp 32 gồm có các lò xo xupáp 31B, 32B, và lực các lò xo tác động lên các đầu xupáp 31A, 32A tương ứng theo các hướng, trong đó các cửa 26, 27 tương ứng được đóng lại. Trục cam 34 được láp cam 33 cho cả nạp và xả được đặt quay được giữa phân của xupáp xả 31 và xupáp nạp 32 trong đầu xi lanh 20 mà các lò xo xupáp 31B, 32B tương ứng được lắp trên đó. cần đẩy xả 35 được bố trí ở trạng thái dọc trục giữa trục cam 34 và đầu thân xupáp của xupáp xả 31. Cần đẩy xả 35 được đỡ bởi trục cần đẩy xả 35A để tự do đung đưa. Mặt khác, cần đẩy nạp 36 được bố trí ở trạng thái dọc trục giữa trục cam 34 và đầu thân xupáp của xupáp nạp 32. cần đẩy nạp 36 được đỡ bởi trục cần đẩy nạp 36A để tự do đung đưa. Cả hai cần đẩy xả và nạp 35, 36 cho phép các phía đầu này của chúng lần lượt tiếp xúc với cam 33 được lắp ở các vị trí tương ứng trên trục cam 34 và cho phép các phía đầu kia của chúng lần lượt đẩy các đầu trước của thân xupáp tương ứng của xupáp nạp 32 và xupáp xả 31. Nhờ đó, xupáp xả 31 và xupáp nạp 32 lần lượt có thể thực hiện thao tác mở cửa theo thời điểm định trước trong khi vẫn chống lại các lò xo xupáp 31B, 32B.

Van phun nhiên liệu 17 được đặt ở phần trên bên trái của đầu xi lanh 20 và ở vùng lân cận với cửa nạp 27. Van phun nhiên liệu 17 được lắp vào đầu xi lanh 20 ở trạng thái được lắp vào trong bệ đỡ 37 với vòng đệm kín chữ o ở giữa để ghép kín chúng. Đầu phun của van phun nhiên liệu 17 hướng vào trong buồng trộn khí nhiên liệu 38 được tạo ra trong bệ đỡ 37, buồng trộn khí nhiên liệu 38 được nối thông với đường nạp 30. Van phun nhiên liệu 17 được giữ ở trạng thái dốc hướng xuống dưới ra phía sau phương tiện giao thông sao cho đầu phun được hướng vào cửa nạp 27. Cụ thể hơn là, nhiên liệu được phun từ van phun nhiên liệu 17 chảy tiếp tuyến với hốc đốt 25 từ cửa nạp 27 để tạo ra dòng cuộn xoáy trong hốc đốt 25.

Hơn nữa, cụm điều khiển như là cụm điều khiển động cơ (Engine Control Unit - ECU) (không được thể hiện trên hình vẽ) điều khiển định thời, mà ở đó van phun nhiên liệu 17 phun nhiên liệu về phía cửa nạp 27.

Đường nạp 30 kéo dài lên trên đầu xi lanh 20 và đầu của nó được bố trí trong xi lanh nối 39 được tạo nhô ra ở mặt trên đầu xi lanh 20 và trên trục tâm theo phương chiều rộng phương tiện giao thông. Ống nạp 40 nối giữa xi lanh nối 39 và bộ lọc không khí 22.

Theo phương án này, ống nạp 40 gồm có ống nối 41 nối vào xi lanh nối 39 bằng bu lông, vòi nạp 42 được nối vào mặt trên của bộ lọc không khí 22 hướng về bên trái của nó và thân bướm ga 43 được đặt giữa vòi nạp 42 và ống nối 41. Bộ lọc không khí có thể lấy khí bên ngoài vào trong qua cửa hút khí 54 được mở ra ở một bên hướng về phía phần dưới của nó. Bên trong bộ lọc không khí được ngăn làm buồng trên và buồng dưới 22A, 22B bởi bộ phận lọc 44 và khí bên ngoài được lấy vào qua cửa hút khí 54 được lọc qua bộ phận lọc 44 được hút vào vòi nạp 42 được lắp vào trong buồng trên 22B. Như được thể hiện trên Fig.3, vòi nạp 42 được nối vào bộ lọc không khí 22 tại vị trí lệch sang trái so với tâm theo phương chiều rộng phương tiện giao thông. Bộ lọc không khí 22 đi ra từ đầu nối lệch tâm trong khi được uốn về phía đường tâm theo phương chiều rộng phương tiện giao thông để được định hướng về phía sau của phương tiện giao thông dọc theo tâm theo phương chiều rộng phương tiện giao thông với đầu sau của nó được nối vào thân bướm ga 43. Vùng nối giữa vòi nạp 42 và thân bướm ga 43 được bố trí bên trên phần lõm 22C được tạo ra trên phần đế của bộ lọc không khí 22. Cả thân bướm ga 43 và ống nối 41 được đặt ở trạng thái về cơ bản dọc theo đường tâm theo phương chiều rộng phương tiện giao thông. Chúng nghiêng dần dần xuống phía dưới rồi hướng về phía sau phương tiện giao thông để kéo dài tới xi lanh nối 39.

Như được thể hiện trên Fig.6, van bướm thứ nhất và thứ hai 45, 46 được bố trí trong thân bướm ga 43 ra thẳng hàng theo phương chiều rộng dọc phương tiện giao thông. Thân xupáp của van bướm thứ hai 46 nhô từ bên phải của thân bướm ga 43 và puli dẫn động 47 được lắp vào đầu trục của nó làm cho thân xupáp hoạt động. Một đầu của dây đai vận hành bướm ga 48 được quấn quanh puli truyền động 47 và đầu còn lại khác của dây đai 48 được nối vào rãnh bướm ga của tay lái 2. Thân xupáp của van bướm thứ nhất 45 cũng nhô ra từ bên phải thân bướm ga 43 và puli dẫn động 47 được nối vào đầu trục của nó qua cơ cấu chậm kiểu liên kết 49. Một đầu của ống vòng 50 được mở ra ở vị trí giữa van bướm thứ nhất và van bướm thứ hai 45, 46 ở mặt trên của thân bướm ga 43 ở tâm theo phương chiều rộng phương tiện giao thông. Ống vòng 50 kéo dài chếch và về bên trái về phía sau phương tiện giao thông từ vùng nối vào thân bướm ga 43, qua phía trên van phun nhiên liệu 17 tới một bên van phun nhiên liệu 17 hướng về phía sau của phương tiện giao thông và nối vào bệ đỡ 37 của van phun nhiên liệu 17. Ống vòng 50 được mở ra ở gần buồng trộn khí nhiên liệu 38 của van phun nhiên liệu 17 để lấy khí cho nhiên liệu được phun từ van phun nhiên liệu 17, nhờ đó thúc đẩy quá trình nguyên tử hóa của nhiên liệu.

Góc mở của van bướm thứ nhất và thứ hai 45, 46 được điều chỉnh theo cách dưới đây theo các thay đổi tải trọng (biến điều khiển bướm ga). Van bướm thứ nhất 45 được giữ ở vị trí rất gần từ vùng chạy không tải (chạy không) tới vùng chạy tải không hoàn toàn đã định trước. Theo đó, lượng khí thổi vào trong hốc đốt 25 được điều khiển chỉ trên cơ sở độ mở của van bướm thứ hai 46. Tại vùng tải không hoàn toàn, khí được hút qua ống vòng 50 để trộn với nhiên liệu được phun từ đầu phun nhiên liệu. Tại thời điểm này, van phun nhiên liệu 17 được bố trí ở lân cận xupáp nạp 32 và như vậy làm giảm mức bám dính của nhiên liệu được phun vào bề mặt thành góp phần gia tăng độ nhạy. Ngoài ra, do sự thúc đẩy quá trình nguyên tử hóa nhiên liệu, có thể làm giảm lượng nhiên liệu chưa cháy có thể xuất hiện tại thời điểm khởi động nguội động cơ 11.

Mặt khác, trong quá trình từ vùng chạy tải không hoàn toàn đến vùng chạy tải cao, van bướm thứ nhất 45 được mở theo sự vận hành bướm ga, sao cho khí được lấy vào trong cũng từ đường chính 51 (đường nạp) trong thân bướm ga 43.

Như được thể hiện trên Fig.5, bộ cảm biến kiểm soát tốc độ không tải 52 và bộ cảm biến áp suất nạp 53 được lắp vào bên trái (mặt đối diện với mặt mà puli dẫn động 47 được lắp vào) của thân bướm ga 43. Bộ cảm biến kiểm soát tốc độ không tải 52 được nối vào ECU (không được thể hiện trên hình vẽ) để thực hiện việc kiểm soát không tải trạng thái không tải trong trường hợp mà độ mở của van bướm thứ hai 46 bằng hoặc ít hơn độ mở định trước. Mặt khác, bộ cảm biến áp suất nạp 53 cũng được nối vào ECU để kiểm soát lượng phun nhiên liệu của van phun nhiên liệu 17 trên cơ sở kết quả áp suất khí xác định được trong thân bướm ga 43.

Bằng cách này, van phun nhiên liệu được bố trí trong mối quan hệ với các bộ phận bao quanh nó.

Mối quan hệ qua lại giữa bộ lọc không khí 22, đầu xi lanh 20 và ống nạp 40

Như được thể hiện trên Fig.4 hoặc Fig.5, khi nhìn từ một bên phương tiện giao thông, van phun nhiên liệu 17 được đặt trong vùng mặt phang được bao quanh bởi đầu xi lanh 20, bộ lọc không khí 22 và ống nạp 40. Việc bố trí như vậy đặc biệt thuận lợi trong việc tránh khỏi các tác nhân bên ngoài tiếp cận vào từ bên phải là bên mà van phun nhiên liệu 17 không được lắp.

Mối quan hệ với ống nạp 40

Do ống nạp 40 nối giữa các mặt trên của các bộ phận tương ứng của đầu xi lanh 20 và bộ lọc không khí 22, nên ống nạp 40 có thể được đặt theo đường đi vòng qua khoảng trống bên trên đầu xi lanh 20 và bộ lọc không khí 22 sao cho dễ dàng làm rộng vùng bao quanh van phun nhiên liệu 17. Nêu mặt trên đâu xi lanh 20 và một bên của bộ lọc không khí 22 được nối với nhau, ống nạp 40 sẽ bị xoắn giữa đường theo phương chiều rộng cao, vì vậy vùng bao quanh van phun nhiên liệu 17 phải làm nhỏ lại gây ra sự lo sợ về sự hạn chế về vị trí mà van phun nhiên liệu được lắp.

Trong khi có thể tưởng tượng được để đặt van phun nhiên liệu 17 ở vị trí ngay bên dưới ống nạp 40 khi nhìn trên hình chiếu bằng (xem Fig.3), thì nó được đặt lệch sang bên ưái theo phương án này. Với việc bố trí này, van phun nhiên liệu 17 không được giấu phía sau ống nạp 40 mà nói chung bị lộ ra ngoài khi nhìn từ bên trên, vì vậy CÓ tác dụng là khi van phun nhiên liệu 17 được lắp vào, công việc này có thể thực hiện một cách nhẹ nhàng không có những cản trở từ ống nạp 40.

Như được thể hiện trên Fig.4, van phun nhiên liệu 17 được bố trí sao cho các vị trí mà ống nối 41 của ống nạp 40 và chỗ nối xi lanh nối 39 được nối vào, xếp chồng theo phương chiều rộng cao khi nhìn từ một bên phương tiện giao thông. Nếu van phun nhiên liệu 17 được lắp vào ở vị trí ngay dưới ống nạp 40, cần phải đặt ống nạp ở vị trí cao để tránh những trở ngại tới van phun nhiên liệu 17 nhưng ống nạp theo phương án này được đặt lệch sang bên trái tạo khả năng bố trí xếp chồng theo phương chiều rộng cao khi nhìn từ một bên phương tiện giao thông. Theo đó, có thể làm giảm cao độ của ống nạp 40 nhờ vậy tạo khả năng hạn chế tổng chiều cao của phương tiện giao thông.

Van phun nhiên liệu 17 được bố trí bên trái thân bướm ga 43 tạo nên ống nạp 40, và puli truyền động 47 được bố trí bên phải thân bướm ga 43. Như được mô tả trên đây, dây đai vận hành bướm ga 48 phải được quấn quanh puli truyền động 47. Mặt khác, ống dẫn nhiên liệu và dây dẫn điện phải được nối vào van phun nhiên liệu 17. Do van phun nhiên liệu 17 có hướng trục hướng về phía thân bướm ga 43, việc đặt dây đai 48 và ống dây dẫn phải được tập trung vào một vùng gây khó khăn về thao tác nếu puli truyền động 47 được đặt ở bên phải thân bướm ga 43. Tuy nhiên, phương án này khả thi do thao tác này có thể được thực hiện riêng rẽ bên trái và bên phải thân bướm ga 43.

Phần cuối ở bên mà ống nạp 40 được nối vào bộ lọc không khí 22 là ở bên mà van phun nhiên liệu 17 được lắp vào. Được bố trí lệch sang bên trái so với đường tâm theo phương chiều rộng phương tiện giao thông, van phun nhiên liệu 17 bị che khuất phía sau vùng được nối vào bộ lọc không khí 22. Nhờ đó, chức năng bảo vệ van phun nhiên liệu được nâng cao hơn.

Mối quan hệ với bộ lọc không khí 22

Fig.2 là hình chiếu thể hiện cụm động cơ U ở trạng thái mà bộ lọc không khí 22 được gỡ bỏ khi nhìn từ phía trước phương tiện giao thông. Như thấy được từ hình vẽ hầu như toàn bộ van phun nhiên liệu 17 được bố trí bên trong vùng trên đó bộ lọc không khí 22 nhô ra và được chỉ thị bởi đường tưởng tượng. Đó là, bộ lọc không khí 22 (bộ phận lọc khí) được tạo ra sao cho phần trước phương tiện giao thông được làm lớn hơn theo phương chiều rộng cao so với phần sau phương tiện giao thông là đầu phía mà tại đó nó được nối vào tấm che đầu xi lanh 21 và nó nhô ra đáng kể ở bên trái là bên mà van phun nhiên liệu 17 được lắp vào theo phương chiều rộng phương tiện giao thông, cụ thể như được thể hiện trên Fig.2, sao cho nó có mối quan hệ tương quan về vị trí để giấu hầu như toàn bộ van phun nhiên liệu 17 sau bộ lọc không khí 22. Theo đó, nó có thể bảo vệ van phun nhiên liệu 17 khỏi các tác nhân bên ngoài (ví dụ như đá sỏi, bùn, nước .. .bắn tóe bởi bánh trước 5) tiếp cận từ phía trước. Bên cạnh đó, khi bộ lọc không khí 22 được đặt tách biệt với cụm động cơ U một cách thông thường trong nhiều trường hợp, nó được lắp vào nắp tấm che đầu xi lanh 21 theo phương án này làm cho bộ lọc không khí 22 gần với van phun nhiên liệu 17 là đối tượng được bảo vệ làm cho có thể bảo vệ chắc chắn van phun nhiên liệu 17 ở mức có thể.

Mối quan hệ với ống vòng 50

Như được thể hiện trên Fig.6, ống vòng 50 được đặt kéo dài bên trên ống nạp 40 vượt qua quanh và phía sau van phun nhiên liệu 17. Đó là cách sắp xếp này tạo thuận lợi cho thao tác lắp ống dẫn do trở ngại qua lại được loại bỏ bằng cách sắp xếp bố trí theo chiều thẳng đứng với ống nạp 40 là đường biên mà đường ống dẫn của ống vòng 50 được bố trí bên trên nhất đường tâm của ống nạp 40 là đường biên khi nhìn từ một một bên phương tiện giao thông và van phun nhiên liệu 17 được bố trí bên dưới đường tâm này.

Thuận lợi khác, mối quan hệ về vị trí

Như được thể hiện trên Fig.3, vùng mà trong đó ống vòng 50 được đặt, là ở bên trái của ống nạp 40 đối diện puli truyền động 47 sao cho thao tác lắp ống và việc quấn dây đai quanh puli truyền động 47 được thực hiện ở giữa ống nạp 40 giữa chúng. Theo đó, có được sự tách biệt về khoảng không làm việc ở đây.

Các phương án khác

Sáng chế không bị giới hạn ở phương án được minh họa trong phần mô tả trên và các hình vẽ, mà ví dụ, các phương án dưới đây vẫn thuộc phạm vi kỹ thuật của sáng chế và sáng chế, ngoại trừ phương án dưới đây, có thể được cải biến và thể hiện trong phạm vi của sáng chế.

(1) Trong khi theo phương án bộ lọc không khí 22 được lắp vào tấm che đầu xi lanh 21 ở trạng thái xếp chồng, bộ lọc không khí 22 có thể được lắp riêng biệt với tấm che đầu xi lanh 21.

(2) Vị trí mà ống nạp 40 được nối vào đầu xi lanh 20 hay bộ lọc không khí 22 không nhất thiết bị hạn chế ở các mặt trên của nó mà có thể trên mặt khác như mặt cạnh hay tương tự.

(3) Đường ống dẫn của ống nạp 40 không nhất thiết bị hạn chế nằm ở khoảng trống bên trên động cơ mà có thể nằm ở khoảng trống bên dưới nó. Trong trường hợp này, van phun nhiên liệu 17 sẽ được lắp ở phía mặt dưới của đầu xi lanh 20.

(4) Ống vòng 50 không nhất thiết phải nối vào mặt trên của thân bướm ga 43 mà có thể được nối vào mặt dưới của nó để kéo dài ra vùng bên dưới ống nạp 40 để được nối vào đầu xi lanh 20.

Các hiệu quả mà sáng chế có thể đạt được

Sáng chế theo khía cạnh thứ nhất

Van phun nhiên liệu được bảo vệ khỏi các tác động từ bên ngoài do ít nhất một phần của nó được bố trí để được bao quanh bởi đầu xi lanh, bộ lọc không khí và ống nạp khi nhìn từ một bên phương tiện giao thông.

Sáng chế theo khía cạnh thứ hai

Một phần của van phun nhiên liệu được bố trí bị che khuất sau bộ lọc không khí khi nhìn từ phía trước phương tiện giao thông, và sao cho trở nên khó bị bùn, nước... bắn tóe từ bánh trước bám vào.

Sáng chế theo khía cạnh thứ ba

Do khoảng trống bên trên van phun nhiên liệu không bị che khuất bởi ống nạp nên thao tác lắp van phun nhiên liệu được thực hiện dễ dàng.

Sáng chế theo khía cạnh thứ tư

Do bộ lọc không khí được lắp ở vị trí gần với van phun nhiên liệu nên sự sắp xếp như vậy chống lại hữu hiệu các tác động từ bên ngoài đến van phun nhiên liệu.

Sáng chế theo khía cạnh thứ năm

Do toàn bộ ống nạp được đặt để đi vòng lên phía trên giữa đầu xi lanh và bộ lọc không khí nên dễ dàng bảo đảm vùng bên trong, sao cho việc lắp đặt van phun nhiên liệu được làm cho tự do hơn.

Sáng chế theo khía cạnh thứ sáu

Do ống vòng và van phun nhiên liệu được bố trí phân tách bên trên và bên dưới ống nạp khi nhìn từ một bên phương tiện giao thông nên các trở ngại qua lại có thể được ngăn ngừa.

Sáng chế theo khía cạnh thứ bảy

Do ống vòng kéo dài ở phía đối diện của ống nạp với puli được lắp nên có thể hạn chế việc tăng bề rộng của phương tiện giao thông chỉ trên một phía của đường tâm phương tiện giao thông.

Sáng chế theo khía cạnh thứ tám

Khi van phun nhiên liệu được đặt bên dưới ống nạp, ống nạp phải được đặt ở vị trí cao để tránh cản trở van phun nhiên liệu, nhưng khi van phun nhiên liệu được đặt lệch so với ống nạp theo phương chiều rộng phương tiện giao thông thì ống nạp có thể được bố trí chồng lên trên van phun nhiên liệu theo phương chiều rộng cao sao cho tổng chiều cao của động cơ kể cả ống nạp có thể được hạn chế ở mức thấp.

Sáng chế theo khía cạnh thứ chín

Do vùng mà trong đó dây dẫn động puli được đặt và vùng mà ống dẫn nhiên liệu được đặt tương ứng với van phun nhiên liệu, được đặt riêng rẽ ở hai phía với ống nạp ở giữa theo phương chiều rộng phương tiện giao thông nên các thao tác lắp đặt các bộ phận tương ứng có thể dễ dàng thực hiện được.

Sáng chế theo khía cạnh thứ mười

Do van phun nhiên liệu được bố trí giấu phía sau đầu được nối của ống nạp hướng về bộ lọc không khí nên nó trở nên rất khó bị bám bùn, nước... bị bánh trước bắn tóe ra.

Yêu cầu bảo hộ

  1. Xe máy gồm có:

    đầu xi lanh được lắp vào phần trước phương tiện giao thông của đầu xi lanh ở trạng thái xếp chồng.

    bộ lọc không khí được bố trí gần kề với phần trước phương tiện giao thông của đầu xi lanh;

    ống nạp nối giữa đầu xi lanh và bộ lọc không khí; và van phun nhiên liệu mà ít nhất một phần của nó được bố trí bên trong vùng được bao quanh bởi đầu xi lanh, bộ lọc không khí và ống nạp khi nhìn từ một bên phương tiện giao thông.

  2. Xe máy theo điểm 1, trong đó ít nhất một phần của van phun nhiên liệu được bố trí trong vùng nhô ra trên bộ lọc không khí khi nhìn từ phía trước phương tiện giao thông.

  3. Xe máy theo điểm 1, trong đó ít nhất một phần của van phun nhiên liệu được bố trí lệch so với vùng nhô ra trên ống nạp theo phương chiều rộng phương tiện giao thông khi nhìn trên hình chiếu bằng của phương tiện giao thông.

  4. Xe máy theo điểm 1, trong đó tấm che đầu xi lanh được lắp lên một bên của phần phía trước phương tiện giao thông của đầu xi lanh và bộ lọc không khí được lắp lên phía trước phương tiện giao thông của tấm che đầu xi lanh.

  5. Xe máy theo điểm 1, trong đó một đầu của ống nạp được nối vào mặt trên của đầu xi lanh đi lên phía trên từ vùng nối kéo dài ra phía trước và đầu kia của ống nạp được uốn xuồng phía dưới để được nôi vào mặt trên của bộ lọc khí.

  6. Xe máy theo điểm 1, trong đó van phun nhiên liệu được lắp vào đầu xi lanh và ống nạp gồm thân bướm ga chứa van bướm theo cách có thể mở và đóng van bướm, đầu vào của ống vòng được nối với đường nạp được tạo ra trong thân bướm ga và đầu ra của ống vòng kéo dài bên trên ống nạp để được nối vào vùng lân cận của đầu phun của van phun nhiên liệu, nhờ vậy ít nhất một phần đường ống dẫn của ống vòng được bố trí bên trên đường biên là đường tâm của ống nạp khi nhìn từ một bên phương tiện giao thông và van phun nhiên liệu được bố trí bên dưới đường biên này.

  7. Xe máy theo điểm 1, trong đó thân bướm ga chứa van bướm để tạo khả năng mở và đóng van bướm được nối với phần giữa của ống nạp, puli mà quanh nó dây đai được quấn quanh và làm cho có thể mở và đóng van bướm nhờ sự chuyển động của dây đai theo hướng dọc trục, được lắp vào một cạnh trong số các cạnh ngoài của thân bướm ga theo phương chiều rộng phương tiện giao thông và ống vòng được đặt kéo dài ở phía đối diện với phía ống nạp mà trên đó puli được bố trí khi nhìn vào hình chiếu bằng của phương tiện giao thông.

  8. Xe máy theo điểm 3, trong đó van phun nhiên liệu được lắp vào đầu xi lanh, ít nhất một phần của nó được bố trí trong vùng nhô ra của ống nạp khi nhìn từ một bên phương tiện giao thông.

  9. Xe máy theo điểm 3, trong đó thân bướm ga chứa van bướm theo cách để có thể mở và đóng van bướm được nối vào phần giữa của ống nạp, puli, mà quanh nó dây đai được quấn quanh và làm cho có thể mở và đóng van bướm nhờ sự chuyển động của dây đai theo hướng dọc trục, được lắp vào một cạnh ngoài của thân bướm ga theo phương chiều rộng phương tiện giao thông và van phun nhiên liệu được bố trí ở phía đối diện với phía mà ở đó puli được bố trí khi nhìn trên hình chiếu bằng của phương tiện giao thông.

  10. Xe máy theo điểm 5, trong đó ít nhất một phàn đường ống dẫn của ống nạp kéo dài trên trục tâm theo phương chiều rộng phương tiện giao thông, một đầu được nối của ống nạp về phía bộ lọc không khí được bố trí lệch so với trục tâm theo phương chiều rộng phương tiện giao thông và ít nhất một phần của van phun nhiên liệu được bố trí trong vùng nhô ra tại đầu được nối hướng về phía bộ lọc không khí khi nhìn từ phía trước phương tiện giao thông.

Top Headlines

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6
  • 7
  • 8

Login Form